Logo Cung Cấp
Xuất khẩu gạo giảm gần 10%

Xuất khẩu gạo giảm gần 10%

1 năm trước bizlive.vn

Kết thúc năm 2019, khối lượng xuất khẩu gạo ước đạt 6,34 triệu tấn và giá trị ước đặt 2,79 tỷ USD, con số này tăng 3,9% về khối lượng nhưng giảm 9,7% về giá trị so với năm 2018.


Ảnh minh họa.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 12 năm 2019 ước đạt 474 nghìn tấn với giá trị đạt 214 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo năm 2019 ước đạt 6,34 triệu tấn và 2,79 tỷ USD.

So với năm 2018, kết quả xuất khẩu gạo đạt được trong năm nay tăng 3,9% về khối lượng nhưng giảm 9,7% về giá trị. Đồng thời, giá gạo xuất khẩu bình quân, trong 11 tháng đầu năm 2019 đạt 439 USD/tấn, giảm 12,7% so với cùng kỳ năm 2018.

Về thị trường xuất khẩu, Philippines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2019 với 31,5% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 11 tháng đầu năm 2019 đạt 1,97 triệu tấn và 813,3 triệu USD, gấp 2,55 lần về khối lượng và gấp 2,34 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 11 tháng đầu năm 2019, các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh, bao gồm: Xenegal (gấp 9,86 lần), Bờ Biển Ngà (+78,6%), Đài Loan (+31%), HongKong (+28,3%) và Tanzania (+26,6%).

So sánh giá trị xuất khẩu gạo theo từng tháng trong năm 2019 và 2018

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cho hay, giá lúa, gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) diễn biến tăng, giảm trái chiều trong tháng 12.

Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa IR50404 giảm 100 đ/kg, từ 4.700 đ/kg xuống 4.600 đ/kg, lúa OM 5451 giữ ở mức 5.300 đ/kg; gạo IR50404 ở mức 10.000 đ/kg; gạo chất 17 lượng cao ở mức 13.000 đ/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.000 đ/kg.

Tại Vĩnh Long, lúa ướt IR50404 tăng 100 đ/kg lên mức 4.300 đ/kg; trong khi lúa khô giảm 200 đ/kg xuống 4.600 đ/kg; lúa hạt dài tăng 100 đ/kg lên mức 5.150 đ/kg (lúa ướt); giảm 200 đ/kg xuống 5.300 đ/kg (lúa khô); gạo IR50404 ở mức 12.000 đ/kg; gạo Jasmine ở mức 14.000 đ/kg.

Tại Kiên Giang, lúa IR50404 ổn định ở mức 5.400 đ/kg; lúa OM 4218 tăng 100 đ/kg lên mức 5.600 – 5.800 đ/kg; lúa OM 6976 tăng 300 đ/kg lên mức 5.900 – 6.000 đ/kg. Tính trong cả năm 2019, giá lúa tại ĐBSCL diễn biến theo chiều hướng tăng nhẹ.

Tại An Giang, giá lúa vụ Thu Đông ở thời điểm hiện tại đang tương đương giá lúa Đông Xuân hồi đầu năm, phổ biến ở mức 4.600 – 4.700 đ/kg (lúa ướt), lúa Hè Thu giá thấp hơn dao động từ 3.900 – 4.300 đ/kg.

HẠ AN